6. LÝ GIẢI NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN SỰ NHẦM LẦM – KHÁC BIÊT TRONG NỘI DUNG CỦA CÁC SẮC PHONG PHỦ VÂN CÁT
LÝ GIẢI CHÍNH THỨC VÌ SAO CÓ VIỆC ĐỊA DANH ĐỜI NGUYỄN CÓ TRONG BẢN SAO SẮC PHONG ĐỜI LÊ CỦA VÂN CÁT ĐANG LƯU TẠI VIỆT HÁN NÔM?
Nhận xét trong các bài trước:
ĐÂY LÀ TỬ HUYỆT ĐẾ NHÓM NGHIÊN CỨU ĐỂ NHÓM NGHIÊN CỨU CHU XUÂN GIAO (Giao Blog) KẾT LUẬN LÝ DỊCH LÀNG VÂN CÁT TRƯỚC 1945 ĐÃ CẤU KẾT VỚI NGƯỜI SƯU TÌM NGỤY TẠO BẢN SAO SẮC PHONG.
Không phủ nhận việc trong 17 sắc phong bị đốt của đền Vân CÁT có những địa danh cuối triều Nguyễn và phần văn phong sắc phong sau những mỹ tự triều Lê đã viết là form sắc triều Nguyễn.
Nhóm nghiên cứu cua TS Chu Xuân Giao thì cho đây là ngụy tạo nhằm tạo chứng cở giả của chính lý dịch làng Vân Cát trước 1945
Nguyên văn nhận xét trong báo cáo của TS Nguyễn Xuân Giao
" Có thể kết luận rằng bản kê sắc phong cho xã Vân Cát và bản sao chép sắc phong cho xã Vân Cát (AD.A16/29) đều không đáng tin cậy mà còn thể hiện sự hiệp đồng của người thống kê và người sao chép, có thể người thống kê và người sao chép cùng trong một nhóm nhóm này có thể là lý dịch của xã/thôn Vân Cát đã cố tính làm ra các văn bản (thống kê và sao chép) để tựa như muốn chứng minh xã vân cát từ năm 1642 đến năm 1911 đã có sắc PHONG THỰC sự cho việc phụng thờ hệ thần Liễu Hạnh."
Tóm lại TS Giao (tức Giao BlogBlog) không những kết luận sắc sai, nguy hiểm hơn mà còn như muốn kết luận Vân Cát không hề có sắc phong nào với câu " Để TỰA như muốn chứng minh đã có"
Nhưng đặc biệt là TS chỉ tập trung phân tích vào niên đại, chi tiết đến ngày tháng và địa danh đời Nguyễn muộn mà không hề phân tích nội dung các Mỹ tự ban có Mẫu Liễu có ngụy tạo hay không có sao chép từ sắc nào ra không. Hoàn toàn không có!
Thế nhưng một tư liệu đã là LUẬN ÁN TIẾN SĨ hiện đã được bảo vệ thành công của Tiến sĩ Nguyễn Đạt Thức (Tức FB Thuc Nguyen) . Luận văn dưới sự hướng dẫn của GS Kiều Thu Hoạch hướng dẫn tại trang 52-53 có viết rất rõ ràng như sau
2 Tại phủ Vân Cát, hiện không còn sắc phong nguyên bản (vật thật) do cáctriều phong tặng. Tuy nhiên, theo Bản kê thần sắc xã Vân Cát, tổng Đồng Đội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (南 定 省 務 本 縣 同 隊 總 雲 葛 社 神 敕), ký hiệu kho: TSHN - Tư liệu Viện Thông tin khoa học xã hội, do địa phương lược kê vào khoảng nửa đầu thế kỷ XX thì ở thời điểm kê khai, xã Vân Cát có 23 đạo sắc.
Tuy nhiên, bản kê chỉ kê khai ngày, tháng, năm, triều vua phong sắc, số bản đựợc phong, không kê khai rõ nội dung sắc phong cho vị thần nào.
Về thông tin kê khai, có thể luợc thuật như sau:
Ngày mùng Ba tháng Bảy năm Dương Hòa thứ 8 (1642) phong 1 đạo;
Ngày mười tám tháng Tư năm Cảnh Trị thứ 8 (1670) phong 2 đạo;
Ngày Hai mươi bốn tháng Sáu nhuận năm Chính Hòa thứ 4 (1683) phong 1 đạo;
Ngày Mười sáu tháng Hai năm Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705) phong 1 đạo;
Ngày Mười hai tháng Bảy năm Bảo Thái thứ 3 (1722) phong 1 đạo;
Ngày Mùng mười tháng Mười hai năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1731) phong 1 đạo; ngày Mười sáu tháng hai năm Long Đức thứ 2 (1733) phong 1 đạo;
Ngày Hai mươi bảy tháng Tám năm Vĩnh Hựu nguyên niên (1735) phong 1 đạo;
Ngày Hai mươi bảy tháng Giêng năm Cảnh Hưng nguyên niên (1740) phong 1 đạo; ngày Hai mươi tám tháng Ba năm Cảnh Hưng nhị niên (1741) phong 1 đạo; ngày mùng Tám tháng Tám năm CảnhHưng thứ 28 (1767) phong 1 đạo;
Ngày Mười sáu tháng Năm năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783) phong 1 đạo; ngày Hai mươi ba tháng Ba năm Chiêu Thống nguyên niên (1787) phong 1 đạo; ngày mùng Bốn tháng Sáu năm Cảnh Thịnh nguyên niên (1793) phong 1 đạo;
Ngày Mười sáu tháng Sáu năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) phong 1
đạo;
Ngày Mười bảy tháng Mười hai năm Tự Đức thứ 3 (1850) phong 1 đạo;
Ngày mùng ba tháng Mười năm Tự Đức thứ 10 (1857) phong 1 đạo; ngày Hai mươi bốn tháng Mười một năm Tự Đức thứ 33 (1880) phong 1 đạo;
Ngày mùng Một tháng Bảy năm Đồng Khánh thứ 2 (1887) phong 1 đạo; ngày Mười tám tháng Mười một năm Thành Thái nguyên niên (1889) phong 1 đạo; ngày Mười một tháng Tám năm Duy Tân thứ 3 (1909) phong 1 đạo; ngày mùng Tám tháng Sáu nhuận năm Duy Tân thứ 5 (1911) phong 1 đạo.
Đặc biệt, theo Nam Định tỉnh, Vụ Bản huyện, Đồng Đội
tổng các xã thần sắc 南 定 省 務 本 縣 同 隊 總 各 社 敕, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AD. A16/ 29, mục Thần sắc xã Vân Cát, ngoại trừ 01 sắc phong cho Lý Nam Đế ngày Mười tám tháng Tư năm Cảnh Trị thứ 8 (1670), còn có53
14 đạo sắc phong cho Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa, Đệ nhị Ngọc nữ Quỳnh cung Công chúa, Đệ tam Ngọc nữ Quảng cung Công chúa dưới thời Lê, gồm: sắc ngày mùng Ba tháng Bảy năm Dương Hòa thứ 8 (1642), phong cho Liễu Hạnh Mã
Hoàng Công chúa; sắc ngày Mười tám tháng Tư năm Cảnh Trị thứ 8 (1670), phong cho Liễu Hạnh Công chúa; sắc ngày Hai mươi bốn tháng Sáu nhuận năm Chính Hòa thứ 4 (1683), phong cho Liễu Hạnh Mã Hoàng… Công chúa; sắc ngày mười sáu tháng Hai năm Vĩnh Thịnh nguyên niên (1705), phong cho Mã Hoàng… Công chúa; sắc ngày Mười hai tháng Bảy năm Bảo Thái thứ 3 (1722), phong cho Mã Hoàng Công chúa; sắc ngày Mùng mười tháng Mười hai năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730), phong cho Mã Hoàng… Công chúa; sắc ngày Mười sáu tháng Hai năm Long Đức thứ 2 (1733), phong cho Mã Hoàng Công chúa; sắc ngày Hai mươi bảy tháng Tám năm Vĩnh Hựu nguyên niên (1735), phong cho Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa; sắc ngày Hai mươi bảy tháng Giêng năm Cảnh Hưng nguyên niên (1740), phong cho Liễu Hạnh Mã Hoàng… Công chúa; sắc ngày Hai mươi tám tháng Ba năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), phong cho Đệ tam Ngọc nữ Quảng cung Công chúa; sắc ngày mùng Tám tháng Tám năm Cảnh Hưng thứ 28 (1767), phong cho Đệ nhị Ngọc nữ Quỳnh cung Công chúa; sắc ngày Mười sáu tháng Năm năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783), phong cho Liễu Hạnh Mã Hoàng… Công chúa; sắc ngày Hai mươi hai tháng Ba năm Chiêu Thống nguyên niên (1786), phong cho Liễu
Hạnh Mã Vàng… Công chúa; sắc ngày mùng Bốn tháng Sáu năm Cảnh Thịnh nguyên niên (1793), phong cho Liễu Hạnh Mã Hoàng… Công chúa [177].
Ngoài hệ thống bia ký, đại tự, câu đối sắc phong kể trên, trong phủ còn có một số văn khắc trên cấu kiện gỗ, chuông, đồ tế tự, con dấu và một số mẫu công văn - sớ sách, khoa cúng…
Điển qua niên đại của các sắc theo bản kê khai, có thể nhận thấy, các sắc kể trên của xã Vân Cát đều nằm trong khung niên đại từ nửa đầu thế kỷ XVII đến khoảng nửa cuối thế kỷ XVIII. Theo đó, như có căn cứ để phỏng đoán:
CÓ LẼ, BẢN KÊ KHAI NÀY ĐƯỢC THỰC HIỆN VÀO CUỐI THỜI LÊ (KHÔNG THỂ TRƯỚC NĂM 1793) HOẶC ĐẦU THỜ INGUYỄN (KHÔNG CÓ SỰ XUẤT HIỆN CỦA CÁC SẮC THỜI NGUYỄN).
Chúng tôi ( Hoài Cổ) nhất trí với quan điểm của TS Nguyễn Đạt Thức, tại đền Vân Cát phong nhưng được lưu chép các MỸ TỰ đầy đủ cùng niên đại ra sách trong đền. Điều này quan trọng trong tế lễ vì cần chép mỹ tự vào sắc PHẦN HOÀNG (sắc đọc xong rồi hóa).
Vì một lý do nào đó sau này sắc đời Lê đã thất lạc nên phải sử dụng các nội dung đã thống kê trên làm nội dung chính của bản sao kê khai cho viện Bác Cổ.
Tuy nhiên khoảng những năm 30 theo yêu cầu của phái viên Viện Viễn Đông Bác Cổ yêu cầu sao chép, do chỉ có phần mỹ tự không có phần kết, nên các cụ tạm để địa danh đương thời (thời Pháp thuộc) cho kết thúc một bài sắc.
Khi thống kê, các cụ làng Vân Cát cũng không ngờ được rắc rối sau gần 100 năm sau khi những bản chép sắc phong đó được đem lên bàn cân của sự ngụy tạo.
Đương thời khoảng những năm 1930-1940, đền Vân Cát vẫn đường đường được coi trọng là nơi Mẫu Sinh, nơi có ngôi đền thờ được toàn quốc công nhận, đâu cần phải tranh chấp với ai để như bây giờ nhận bằng di tích lịch sử hay mục đích khác đâu. Các cụ phụng sự thánh thần với cả niềm tin, niềm bảo vệ cho sự tối túy tối linh của làng. Ngụy tạo để làm gì, khai gian không những lo thánh trách phạt mà có khi chịu tội với làng. (Xem thêm ý kiến bác Nghiêm Tiến Mùi.
Điều đáng buồn và xấu hổ là với những công bố tràn lan về sự ngụy tạo sắc phong hết đổ cho người đương thời, lại báo cáo chi tiết nghi ngờ các cụ lý dịch nhưng không ai trong giới học thuật lên tiếng. Chỉ có mấy cụ già người Vân Cát bất bình ( bài trên báo NCT) nhưng không ai hay, ai giải quyết ý kiến.































Nhận xét
Đăng nhận xét