4. "PHIÊN DỊCH" BẢN CÁO CÁO RỐI RẮM CỦA TS CHU XUÂN GIAO ĐỂ DỄ HIỂU NỘI DUNG LÀ GÌ? Link bài:
THỨ TỰ 17 SẮC PHONG VÀ NHẬN XÉT
1.SẮC PHONG NĂM DƯƠNG HÒA 8 (1642) BAN NGÀY 3/7 PHONG CHO MÃ HOÀNG CÔNG CHÚA
Ngụy tạo dòng chữ “chuẩn hứa Nam Định tỉnh, Nghĩa Hưng phủ,Thiên
Bản huyện, Đồng Đội tổng An Thái xã, Vân
Cát thôn y cựu phụng sự”
Sắc Lê Trung Hưng và Lê Mạt không bao giờ
ghi đia chỉ nơi nhận sắc ngay ở trong lòng sắc (nếu có thì sẽ ghi ở mặt sau và
thường rất ngắn gọn)Địa danh “Nam Định tỉnh” chỉ có đời Nguyễn, cho nên không
thể có đơn vị hành chính tỉnh ở sắc
phong đời Lê niên hiệu Dương Hòa (1683) được.
Nếu sắc phong đời Lê thực sự thì không có địa
danh đời Nguyễn. Việc cố tình ghi rõ “ thôn Vân Cát, xã An Thái, tổng Đồng Đội,
huyện Thiên Bản, phủ Nghĩa Hưng, tỉnh sắc Nam Định” vào sắc phong đời Lê là sự
ngụy tạo và là sự ngụy tạo lộ liễu
2. SẮC PHONG CẢNH TRỊ 8 BAN NGÀY 18/4 PHONG CHO LIỄU HẠNH CÔNG
CHÚA.
(Tiến sĩ Chu Xuân
Giao không nhận xét gì)
3. SẮC PHONG NĂM CHÍNH HÒA 4 BAN NGÀY 24/6 PHONG CHO LIỄU HẠNH MÃ
HOÀNG
(Tiến sĩ Chu Xuân
Giao không nhận xét gì)
4. SẮC PHONG NĂM VĨNH THỊNH 1 (1705) BAN NGÀY 16/2 PHONG CHO LIỄU
HẠNH MÃ HOÀNG
Cả hai bản trước 1945 (THHN3634 & AD.a
16/29) và TK21 đều nghi niên đại 16/2 Năm Vĩnh Thịnh 1.
Theo sử chính thống bắt đầu từ tháng 4 âm lịch
nên không thể có ngày “16 tháng 2 năm Vĩnh Thịnh 1 được” đây là ngụy tạo lộ liễu
của người thống kê trước 1945 và người ngụy tạo đầu thế kỷ 21 kế thừa.
5. SẮC PHONG NĂM BẢO THÁI 3 (1722) BAN NGÀY 12/7 PHONG CHO MÃ
HOÀNG CÔNG CHÚA
Bản trước 1945: Ngụy tạo thành Sơn Nam Đạo,
nghĩa Hưng phủ, Thiên Bản huyện, Đồng Đội tổng, Vân Cát thôn ( HC Chú thích:
Đây là bản lý dịch trước 1945 của Vân Cát khai)
Bản TK21: Bản ngụy tạo đầu thế kỷ 21 đã bỏ
đia chỉ “thôn Vân Cát” (thuộc xã An Thái) bản ngụy trước 1945 rồi thay thế bằng
“xã Vân Cát)
Hóa ra thời điểm 1722 mà có cả tỉnh Nam Định
và “thôn Vân Cát” (thuộc vào) xã Vân Cát” ngụy tạo quá lộ liệu (HC Chú thích :Đây là bản ông Lê Quốc Việt viết
chữ)
6. SẮC PHONG NĂM VĨNH
KHÁNH 2 BAN NGÀY 10/12 CHO LIỄU HẠNH MÃ HOÀNG
Bản TK21: Thêm hai chữ Cố Sắc vào cuối cùng .
Hai chữ cố sắc khác với bản khai trước 1945
7. SẮC PHONG NĂM LONG
ĐỨC 2 (1733) BAN NGÀY 16/2 CHO LIỄU HẠNH MÃ HOÀNG
Bản trước 1945 ký hiệu (AD.a16/29) có địa chỉ
Nam Định tỉnh, nghĩa Hưng phủ, Thiên Bản huyện, Đồng Đội tổng, Vân Cát xã.
Bản TK21 ( Ông Việt ) bỏ dòng địa chỉ trên
và thêm hai chữ “Cố Sắc”. Hai chữ Cố Sắc vốn không có trong bản sao trước 1945
8.SẮC PHONG NĂM VĨNH HỰU
1 (1735) BAN NGÀY 27/8 CHO LIỄU HẠNH MÃ HOÀNG
Bản TK21: Thêm hai chữ Cố Sắc
vào cuối cùng. Hai chữ cố sắc khác với bản khai trước 1945
9. SẮC PHONG NĂM CẢNH
HƯNG 1 (1740) BAN NGÀY 27/1 PHONG CHO LIỄU HẠNH MÃ HOÀNG
Cả hai bản trước 1945 (THHN3634 & AD.a
16/29) và TK21 chép lại y nguyên đều nghi niên đại “27 tháng 1 năm Cảnh Hưng 1”
Theo sử chính thống bắt đầu từ tháng 21
tháng 5 âm lịch nên không thể có ngày “27 tháng 1 năm Cảnh Hưng 1” được.
Đây là ngụy tạo lộ liễu của cả người thống
kê và người sao chép trước 1945 và người ngụy tạo đầu thế kỷ 21 tiếp tục kế thừa.
10.SẮC PHONG NĂM CẢNH
HƯNG 2 BAN NGÀY 28/3 PHONG CHO QUẢNG CUNG CÔNG CHÚA
( Tiến sĩ Chu Xuân
Giao không nhận xét gì)
11 SẮC PHONG CẢNH HƯNG 28 BAN NGÀY 27/1 PHONG CHO QUỲNH CUNG CÔNG CHÚA
( Tiến sĩ Chu Xuân
Giao không nhận xét gì)
12. SẮC PHONG NĂM CẢNH HƯNG 44 BAN NGÀY
16/5 PHONG CHO LIỄU HẠNH MÃ HOÀNG
( Tiến sĩ Chu Xuân
Giao không nhận xét gì)
13. SẮC PHONG NĂM CẢNH THỊNH 1 BAN NGÀY 4/6 PHONG CHO LIỄU HẠNH MÃ HOÀNG
(Tiến sĩ Chu Xuân Giao
không nhận xét gì)
14. SẮC PHONG NĂ M MINH MỆNH 2 BAN NGÀY 21/7 PHONG CHO LIỄU HẠNH CÔNG CHÚA
( Tiến sĩ Chu Xuân
Giao không nhận xét gì)
15.SẮC PHONG NĂM TỰ ĐỨC
3 (1850) BAN NGÀY 6/6 PHONG CHO LIỄU HẠNH VÀ QUỲNH CUNG
Trong sắc có câu “Tự Đức tam thập nhất niên
chính trị, trẫm ngũ tuần đại khánh” Câu này tạm dịch là năm Tự Đức thứ 31 (Năm
1878) đúng dịp lễ ngũ tuần đại khánh (mừng thọ 50 tuổi) của trẫm,
Nhận xét ( TS Giao) : Một sắc phong niên đại
ghi Tự Đức thứ 3 lại có thể nhắc tới chuyện Tự Đức năm thứ 32
[Hoài Cổ nhận xét] TS Giao giả vờ đánh sang
việc sắc ngụy tạo thực ra nó là vấn đề lỗi chính tả, viết thiếu chữ
Mẫu câu câu “Tự Đức tam thập nhất niên chính
trị, trẫm ngũ tuần đại khánh” là của năm Tự Đức Tam Thập Tam Niên (1880). Các cụ
Vân Cát thiếu chứ “ Tam Thập” nên từ sắc năm 33 đã thành sắc năm thứ 3. Người
viết sắc TK 21(ông Việt) cũng không để để nhận ra niên đại sai mà chép nguyên bản.
16.SẮC PHONG NĂM DUY TÂN
3 BAN NGÀY 11/8 PHONG CHO LIỄU HẠNH, THƯỢNG NGÀN
(Tiến sĩ Chu Xuân Giao
không nhận xét gì)
17. SẮC PHONG NĂM DUY TÂN 5 BAN NGÀY 8/6 PHONG CHO LIỄU HẠNH, QUỲNH CUNG, QUẢNG
CUNG
(Tiến sĩ Chu Xuân Giao
không nhận xét gì)
TÓM LẠI CÁC BẢN BẮT ĐƯỢC LỖI & KHÔNG BẮT ĐƯỢC LỖI LÀ
CÁC SẮC CÓ VẤN ĐỀ : 1,4,5,6,7,8,9,15 (TÁM ĐẠO SẮC)
CÁC SẮC KHÔNG CÓ VẤN ĐỀ :2, 3, 10,11,12,13,14,16,17 (CHÍN ĐẠO SẮC)
Tuy nhiên TS Chu Xuân Giao đã gộp tất cả thành 17 đạo sắc phong ngụy tạo và đề nghị xử lỷ nghiêm minh và dứt điểm như Tịch thu tang vật.

Nhận xét
Đăng nhận xét